Nghị định số 98/2018/NĐ-CP đã tạo ra một cuộc cách mạng trong tổ chức sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam, đưa mô hình liên kết từ tự phát thành phương pháp chủ đạo, là trụ cột tái cơ cấu ngành. Sau 6 năm triển khai, toàn quốc có gần 3.000 dự án và kế hoạch liên kết được phê duyệt, giúp tăng thu nhập cho nông dân (10-20%), nâng cao hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp và mở rộng thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, liên kết còn đối mặt với nhiều hạn chế như thiếu tính bền vững, thủ tục hỗ trợ rườm rà, thiếu hạ tầng số và năng lực yếu kém của hợp tác xã. Để khắc phục, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị sửa đổi Nghị định 98, tập trung cải cách thủ tục, phát triển chuỗi giá trị số và xanh, chuẩn hóa vùng nguyên liệu và xây dựng hệ sinh thái tư vấn toàn diện. Mục tiêu là đưa liên kết trở thành "chuẩn mực vàng" cho nông nghiệp hiện đại, bền vững trong kỷ nguyên hội nhập.
![]() |
| Quang cảnh toàn thể Hội nghị |
Đổi mới nền tảng trong tư duy và tổ chức sản xuất nông nghiệp
Trong báo cáo sơ kết 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT), đã khẳng định Nghị định này đã tạo ra một cuộc cách mạng trong tư duy và phương thức tổ chức sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam. Từ một nền tảng liên kết tự phát, thiếu cơ sở pháp lý và tính bền vững giữa nông dân và doanh nghiệp (DN), đến nay, mô hình liên kết đã vươn lên trở thành một phương pháp sản xuất chủ đạo, được cả Nhà nước, DN và các hợp tác xã (HTX) đồng lòng phát triển, coi đây là trụ cột trong công cuộc tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Dữ liệu từ 34 tỉnh, thành phố cho thấy, tính đến tháng 6/2025, toàn quốc đã có 2.938 dự án và kế hoạch liên kết được phê duyệt theo Nghị định 98, trong đó bao gồm 1.968 dự án và 970 kế hoạch liên kết do các địa phương chấp thuận. Cụ thể, vùng Trung du và miền núi phía Bắc dẫn đầu với 746 dự án, kế hoạch; tiếp theo là vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với 978 liên kết; vùng Đồng bằng sông Hồng với 465 liên kết; vùng Tây Nguyên có 458 dự án, kế hoạch. Các vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long ghi nhận số lượng thấp hơn, lần lượt là 160 và 131 dự án, kế hoạch liên kết.
Nghị định số 98/2018/NĐ-CP đã phân loại 7 hình thức liên kết chính, bao gồm sự hợp tác giữa các công đoạn trong chuỗi giá trị nông nghiệp, từ cung ứng vật tư, dịch vụ đầu vào, tổ chức sản xuất, thu hoạch, đến sơ chế hoặc chế biến gắn liền với tiêu thụ sản phẩm. Mặc dù vậy, thực tiễn cho thấy các mô hình liên kết chuỗi vô cùng phong phú, được hình thành dựa trên đặc thù nhu cầu của từng khu vực, ngành hàng hoặc nhóm chủ thể. Đáng chú ý, trong tổng số các dự án và kế hoạch liên kết, lĩnh vực trồng trọt chiếm ưu thế với 1.969 dự án, kế hoạch (chiếm 67%); tiếp theo là chăn nuôi với 695 dự án, kế hoạch (chiếm 23,7%); lâm nghiệp với 184 dự án, kế hoạch (chiếm 6,3%); và thủy sản với 72 dự án, kế hoạch (chiếm 2,5%). Về cơ cấu các bên tham gia và chủ trì liên kết, tính đến thời điểm hiện tại, trong số 2.938 dự án, kế hoạch đã được phê duyệt, có sự góp mặt của 2.412 HTX, 538 tổ hợp tác, 1.305 DN và 211.545 hộ nông dân tham gia. Đặc biệt, 2.331 dự án, kế hoạch liên kết do các HTX đóng vai trò chủ trì, trong khi các DN đảm nhiệm vai trò chủ trì đối với 607 dự án, kế hoạch còn lại.
![]() |
| Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Võ Văn Hưng phát biểu định hướng tại Hội nghị |
Vượt lên việc kiến tạo các mô hình hợp tác mẫu mực, Nghị định số 98/2018/NĐ-CP đã định hình một nền văn hóa hợp tác mới mẻ trong nông nghiệp Việt Nam. Trên khắp các địa phương, nông dân đã chủ động liên kết sản xuất theo hợp đồng từ doanh nghiệp (DN), chấm dứt tình trạng sản xuất tự phát và phụ thuộc vào thương lái. Các hợp tác xã (HTX) ngày càng khẳng định vị thế là cầu nối tổ chức quan trọng, vừa bảo vệ quyền lợi nông dân, vừa là đối tác chiến lược của DN. Đặc biệt, nhờ các cơ chế hỗ trợ từ Nghị định, nhiều HTX đã được đầu tư nâng cấp hạ tầng, bao gồm kho bảo quản, máy sấy, hệ thống truy xuất nguồn gốc, đồng thời được bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý. Thêm vào đó, nhiều địa phương đã thành công trong việc xây dựng các vùng nguyên liệu quy mô lớn, gắn liền sản xuất với truy xuất nguồn gốc và cấp mã vùng trồng, mở đường cho nông sản Việt tiếp cận thị trường xuất khẩu chính ngạch. Sự kết hợp chặt chẽ giữa chính sách liên kết và chương trình OCOP, cùng việc tích hợp vùng nguyên liệu với các đề án chuyên ngành, đã và đang được đẩy mạnh. Nhờ vào sự đồng bộ này, nhiều chuỗi giá trị nông sản đã được hoàn thiện vượt bậc về quy mô sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và giá trị thương hiệu địa phương, qua đó góp phần quan trọng vào công cuộc chuyển đổi nền nông nghiệp Việt Nam theo hướng gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Đánh giá toàn diện tác động của chính sách liên kết
Theo nhận định của ông Lê Đức Thịnh, những thành tựu đạt được từ việc triển khai Nghị định không chỉ dừng lại ở các con số định lượng, mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về chất lượng và sự phát triển thể chế. Trước tiên, chính sách đã đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy hình thành các chuỗi giá trị nông sản chủ lực, từ quy mô quốc gia đến cấp địa phương. Các ngành hàng mũi nhọn như lúa gạo, cà phê, trái cây, thủy sản, chăn nuôi, lâm sản… đều chứng kiến sự phát triển vượt bậc về quy mô vùng nguyên liệu và quá trình chuẩn hóa sản xuất. Điều này không chỉ giúp giảm thiểu sự phụ thuộc vào thương lái mà còn mở rộng đáng kể thị trường xuất khẩu, đặc biệt là đến các thị trường có tiêu chuẩn cao như Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ.
Từ góc độ kinh tế, nông dân tham gia các mô hình liên kết đã gặt hái lợi ích trực tiếp thông qua việc gia tăng thu nhập từ 10 – 20% so với phương thức sản xuất đơn lẻ. Điều này có được nhờ tối ưu hóa chi phí đầu vào, nâng cao năng suất, đảm bảo đầu ra ổn định và được bảo hộ bằng các hợp đồng bao tiêu rõ ràng. Song hành đó, các doanh nghiệp (DN) cũng cải thiện hiệu quả sản xuất, kiểm soát chặt chẽ chất lượng nguyên liệu, giảm thiểu rủi ro thị trường và nâng cao uy tín thương hiệu. Đối với chính quyền địa phương, chính sách này cung cấp thêm công cụ đắc lực để quản lý vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc và hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp trên địa bàn.
Về khía cạnh xã hội, Nghị định đã thành công trong việc kiến tạo niềm tin và thiết lập cơ chế phối hợp hiệu quả giữa doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) và nông dân – mối liên kết từng là điểm yếu cố hữu trong mô hình phát triển nông nghiệp Việt Nam. Khi thông tin và lợi ích được các bên chia sẻ minh bạch, vai trò của HTX trở nên nổi bật hơn, vượt ra khỏi vai trò trung gian hành chính để trở thành một tác nhân kinh tế thực thụ trong chuỗi giá trị. Đặc biệt, mô hình liên kết còn góp phần đáng kể vào việc giảm thiểu rủi ro trong tiêu thụ nông sản, từng bước chấm dứt tình trạng “giải cứu nông sản” thường xuyên xảy ra trước đây.
Từ góc độ quản lý nhà nước, chính sách này đã mở đường cho các cơ quan quản lý thực hiện chuyển đổi tư duy từ điều hành hành chính sang điều phối chuỗi giá trị. Thay vì can thiệp sâu vào các hoạt động sản xuất cụ thể, trọng tâm được dịch chuyển sang việc kiến tạo môi trường và cơ chế khuyến khích hợp tác tự nguyện, bình đẳng giữa các chủ thể. Đây được xem là một sự chuyển mình mang tính thể chế, đánh dấu bước tiến quan trọng trong công tác quản lý nông nghiệp của Việt Nam.
Định hình khung chính sách mới: Linh hoạt, bền vững và đồng bộ cho liên kết nông nghiệp
Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận, quá trình triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP vẫn đối mặt với những thách thức và hạn chế cần khắc phục: (i) **Tính bền vững của liên kết còn hạn chế:** Nhiều mô hình liên kết vẫn chỉ dừng lại ở các hợp đồng mua bán đơn thuần, thiếu các cam kết dài hạn cũng như cơ chế ràng buộc về đầu tư, kỹ thuật hoặc tiêu chuẩn chất lượng. Sự biến động của giá thị trường dễ dàng phá vỡ liên kết, cho thấy tư duy hợp tác chưa thực sự sâu sắc và còn mang nặng tính ngắn hạn. (ii) **Quy trình thủ tục hỗ trợ còn rườm rà và hành chính hóa:** Yêu cầu về việc lập “dự án liên kết” và trải qua quy trình thẩm định, phê duyệt phức tạp ở nhiều cấp đã gây khó khăn cho doanh nghiệp (DN) và hợp tác xã (HTX), đặc biệt là các đơn vị quy mô nhỏ, trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ. Dù có chính sách hỗ trợ tư vấn lên đến 300 triệu đồng/dự án, việc triển khai còn hạn chế do thiếu mạng lưới tư vấn chuyên nghiệp, dẫn đến nhiều mô hình không đủ năng lực hoàn thiện hồ sơ và bỏ lỡ cơ hội. (iii) **Thiếu hụt hạ tầng số và công cụ quản lý truy xuất nguồn gốc:** Hầu hết các địa phương chưa xây dựng được nền tảng số dùng chung để quản lý HTX, hợp đồng liên kết, vùng nguyên liệu và lượng phát thải carbon. Dữ liệu về sản lượng, chất lượng, doanh thu còn phân tán và thiếu chuẩn hóa, làm chậm quá trình giám sát hiệu quả chính sách và nhân rộng mô hình. Điều này khiến liên kết chưa thực sự gắn kết với xu thế chuyển đổi số và thương mại nông sản minh bạch toàn cầu. (iv) **Năng lực tổ chức, quản trị của HTX yếu, DN thiếu động lực đầu tư dài hạn:** Đa số HTX còn nhỏ lẻ, thiếu vốn, thiếu cán bộ kỹ thuật và kỹ năng quản trị hiện đại. Trong khi đó, DN gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng và thiếu cơ chế bảo hiểm rủi ro, khiến họ chưa thực sự mặn mà với việc đầu tư dài hạn vào hạ tầng và vùng nguyên liệu. Các chính sách hỗ trợ hiện hành chủ yếu tập trung vào giai đoạn đầu tư, thiếu cơ chế “hỗ trợ theo kết quả”, chưa tạo được động lực bền vững cho liên kết.
Những tồn tại và hạn chế đã chỉ ra rằng hợp tác, liên kết trong nông nghiệp Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ nhưng chưa đạt được sự ổn định và đồng bộ cần thiết. Do đó, để liên kết thực sự trở thành trụ cột vững chắc của nền nông nghiệp hiện đại, Việt Nam cần khẩn trương xây dựng một khung chính sách mới – một chính sách linh hoạt hơn, sâu sắc hơn trong việc tích hợp công nghệ số, tuân thủ các tiêu chuẩn xanh và thiết lập cơ chế chia sẻ rủi ro hiệu quả. Mục tiêu là biến hợp tác và liên kết thành “chuẩn mực vàng” trong sản xuất nông nghiệp, đặc biệt trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu. Dù các mô hình liên kết theo cơ chế thị trường đã tạo dựng nền tảng ban đầu quan trọng, để liên kết thực sự trở thành “xương sống” của nền nông nghiệp tiên tiến, chúng ta cần tiếp tục hoàn thiện trên ba trụ cột chính: Thể chế, năng lực tổ chức và hạ tầng số. Dựa trên nhận định này, ông Lê Đức Thịnh đã kiến nghị giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương để tham mưu Chính phủ xây dựng dự thảo “Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 98/2018/NĐ-CP”, và trình Chính phủ ban hành trong năm 2026.
Sau phần trình chiếu video tổng quan về thành tựu và kết quả 6 năm thực hiện Nghị định số 98/2018/NĐ-CP, Hội nghị đã lắng nghe các bài tham luận sâu sắc từ đại diện Viện Chiến lược, chính sách nông nghiệp và Môi trường; Trường Chính sách công và phát triển nông thôn; Hội Nông dân Việt Nam; Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Viện Kinh tế và Thể chế nông nghiệp thuộc Học viện Nông nghiệp Việt Nam; Liên minh Hợp tác xã Việt Nam; cùng Sở Nông nghiệp và Môi trường từ một số địa phương. Các tham luận đã tập trung phân tích: Tình hình và kết quả triển khai Nghị định số 98/2018/NĐ-CP; những rào cản, vướng mắc trong việc thực hiện chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản và các kiến nghị sửa đổi, bổ sung; vai trò then chốt của HTX trong việc liên kết chuỗi giá trị sản phẩm nông nghiệp theo Nghị định 98; kinh nghiệm tư vấn, hỗ trợ xây dựng dự án, kế hoạch liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản theo chuỗi giá trị; kiến nghị hoàn thiện chính sách hợp tác liên kết trong sản xuất, tiêu thụ gỗ rừng trồng tại khu vực miền Trung; và khẳng định liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ giữa doanh nghiệp, HTX và nông dân là giải pháp chủ đạo để phát triển bền vững ngành hàng lúa gạo…
Trong bài tham luận quan trọng mang tiêu đề “Rào cản, vướng mắc trong triển khai thực hiện chính sách khuyến khích hợp tác, liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản và kiến nghị sửa đổi, bổ sung”, ông Hoàng Vũ Quang, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và Môi trường, đã đề xuất các giải pháp nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp (DN) tham gia xây dựng các vùng nguyên liệu quy mô lớn, gắn kết với chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ nông sản. Cụ thể, cần hỗ trợ DN trong việc thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để xây dựng nhà xưởng, kho chứa, kho lạnh… phục vụ các hoạt động sấy, sơ chế, bảo quản và chế biến nông sản. Đồng thời, cũng cần có chính sách hỗ trợ và tạo thuận lợi cho hợp tác xã (HTX) trong việc thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất để mở rộng sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ vận chuyển, bảo quản, phơi sấy, sơ chế và chế biến nông sản. Ngoài ra, việc hỗ trợ HTX tập trung, tích tụ đất đai nhằm tổ chức sản xuất theo mô hình cánh đồng lớn cũng là một giải pháp trọng yếu.
Phát biểu định hướng tại Hội nghị, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Võ Văn Hưng đã khẳng định rằng, sau 6 năm triển khai, Việt Nam đã từng bước hình thành các chuỗi giá trị nông sản quy mô lớn, có khả năng lan tỏa mạnh mẽ. Ông nhấn mạnh, chuỗi liên kết này đóng vai trò là công cụ quản trị cốt lõi, hỗ trợ việc truy xuất nguồn gốc, tăng cường minh bạch thương mại và quản lý hiệu quả toàn bộ chuỗi cung ứng. Đặc biệt, trong bối cảnh cam kết phát triển bền vững và mục tiêu Net Zero vào năm 2050, giá trị sản phẩm cùng với tín chỉ carbon sẽ trở thành những động lực kinh tế mới đầy tiềm năng, mang lại lợi ích đặc biệt cho nông dân và các hợp tác xã.
Nhận diện những tồn tại và hạn chế hiện nay, bao gồm chuỗi liên kết chưa thực sự bền vững và chưa có độ phủ rộng; các thủ tục hỗ trợ còn phức tạp, rườm rà; việc chú trọng đến liên kết số hóa và xanh còn hạn chế; cùng với năng lực của các hợp tác xã chưa đủ mạnh để điều phối chuỗi… Thứ trưởng kết luận rằng liên kết đã có về số lượng nhưng chưa vững về chất, đòi hỏi một bước đột phá mạnh mẽ. Ông đã chỉ ra 4 nhiệm vụ trọng tâm cho giai đoạn tiếp theo: (i) **Cải cách thủ tục và cơ chế hỗ trợ:** Hướng tới sự minh bạch, thuận lợi, lấy hiệu quả và giá trị chuỗi làm trọng tâm; (ii) **Phát triển chuỗi giá trị số và xanh:** Tập trung vào quản trị điện tử, truy xuất nguồn gốc và giảm phát thải carbon; (iii) **Tổ chức sản xuất gắn với vùng nguyên liệu chuẩn:** Đảm bảo dịch vụ công minh bạch, cấp mã vùng trồng và đẩy mạnh đào tạo số hóa; (iv) **Xây dựng hệ sinh thái tư vấn liên kết toàn diện:** Bao gồm tư vấn kỹ thuật, quản trị hợp đồng, thị trường, chuyển dịch từ hỗ trợ hành chính sang kiến tạo môi trường hợp tác thực chất. Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhấn mạnh: “Liên kết chuỗi giá trị không chỉ là một phương thức sản xuất, mà còn là bản sắc văn hóa hợp tác, là niềm tin và bản lĩnh kiên cường của nông dân, HTX và doanh nghiệp Việt Nam. Việc đề xuất các giải pháp chiến lược sẽ đưa liên kết nông nghiệp lên một tầm cao mới, hoàn thiện, hiện đại, số hóa và bền vững, đáp ứng mọi yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong kỷ nguyên hội nhập toàn cầu.”
Thanh Bình


