Xử lý nước Wamax - Chuyên gia lọc nước giếng khoan, lọc nước sinh hoạt

Không đánh đổi môi trường: Việt Nam đang làm gì để phát triển bền vững?

Kỳ I: Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng

Bài báo nhấn mạnh rằng thước đo cốt lõi của phát triển bền vững là chất lượng môi trường sống, gắn liền với cuộc sống của mỗi cá nhân, chứ không chỉ là các chỉ số kinh tế. Để đạt được điều này, Đảng và tỉnh Hưng Yên đã liên tục củng cố nhận thức và ban hành các nghị quyết quan trọng, định hướng phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và ứng dụng khoa học công nghệ, tích hợp bảo vệ môi trường vào mọi khía cạnh của mô hình tăng trưởng. Tỉnh Hưng Yên cụ thể hóa bằng các mục tiêu môi trường định lượng cao đến năm 2030, thể hiện sự chuyển dịch từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa và quản trị rủi ro môi trường ngay từ khâu quy hoạch và thu hút đầu tư. Việc thực hiện đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của chính quyền (hành động quyết liệt), doanh nghiệp (coi bảo vệ môi trường là lợi thế cạnh tranh) và cộng đồng (nâng cao ý thức), với những kết quả thực tiễn, minh bạch là minh chứng cho đường lối phát triển đúng đắn.

Mục tiêu cụ thể – Nền tảng cho phát triển bền vững

Quá trình phát triển thường được đo lường bằng những chỉ số định lượng rõ ràng: tốc độ tăng trưởng kinh tế, quy mô sản xuất, sự hình thành các tuyến đường mới, các khu công nghiệp hiện đại, hay sự mở rộng không ngừng của các đô thị. Tuy nhiên, có một thước đo thầm lặng nhưng lại mang ý nghĩa cốt lõi, gắn liền với chất lượng cuộc sống của mỗi cá nhân và quyết định giá trị thực sự của mọi thành quả phát triển: đó chính là môi trường sống.

Liệu nguồn nước có đảm bảo an toàn sinh hoạt? Không khí có thực sự trong lành? Quy trình thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải đã đạt hiệu quả tối ưu hay chưa? Những dòng sông, cánh đồng, khu dân cư có được bảo vệ vững chắc trước sức ép của làn sóng công nghiệp hóa và đô thị hóa? Khi người dân phát hiện và lên tiếng về một vấn đề môi trường, chính quyền có kịp thời nhận diện, lắng nghe và hành động quyết liệt? Những vấn đề tưởng chừng rất đỗi đời thường này lại chạm đến một khía cạnh chính trị sâu sắc: tính đúng đắn của một đường lối phải được chứng minh bằng chính cuộc sống thực tiễn.

Trong hành trình đổi mới, nhận thức của Đảng về bảo vệ môi trường không ngừng được củng cố và phát triển, song hành cùng thực tiễn đa chiều. Từ Nghị quyết số 24-NQ/TW năm 2013 về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, tư duy về lĩnh vực này ngày càng được gắn kết chặt chẽ hơn với mô hình tăng trưởng, chất lượng cuộc sống và các yêu cầu phát triển bền vững.

Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu xây dựng một mô hình tăng trưởng mới, trong đó khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được xác định là động lực then chốt. Nghị quyết cũng đặc biệt nhấn mạnh sự tất yếu của phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, chuyển đổi xanh và chuyển đổi năng lượng. Cùng với đó là nhiệm vụ quản lý, sử dụng tài nguyên hiệu quả, bảo vệ môi trường, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng thời tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm về tài nguyên, môi trường.

Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng để thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV đã cụ thể hóa việc quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu phải dựa trên nền tảng ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Đồng thời, chương trình đẩy mạnh chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Kèm theo là việc xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp, thiết lập và vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon nội địa; hoàn thiện hệ thống giám sát môi trường thời gian thực, quy định bắt buộc báo cáo và kiểm soát chặt chẽ khí thải đối với các doanh nghiệp quy mô lớn.

Theo đó, bảo vệ môi trường không phải là một nhiệm vụ tách rời hay đứng bên lề quá trình phát triển. Đối với Hưng Yên, nhận thức này càng trở nên ý nghĩa hơn trong bối cảnh tỉnh đang đứng trước ngưỡng cửa của những cơ hội phát triển mới, với yêu cầu tăng trưởng vượt trội, mở rộng không gian kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, đô thị hóa, phát triển hạ tầng và không ngừng nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân.

Tại kỳ họp diễn ra ngày 25/02/2026, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thông qua Nghị quyết số 832/NQ-HĐND về điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nghị quyết này đặt mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường, nâng cao năng lực phòng, chống và thích ứng với biến đổi khí hậu. Đồng thời, các mục tiêu môi trường đến năm 2030 được xác định rất cụ thể, bao gồm: 100% hộ dân được sử dụng nước sạch, hợp vệ sinh; 100% chất thải rắn sinh hoạt ở đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường; 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý và 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn về môi trường.

Các mục tiêu này được lượng hóa một cách rõ ràng, cụ thể hóa tầm nhìn đến năm 2030 của Hưng Yên: 100% hộ dân được tiếp cận nước sạch, hợp vệ sinh; toàn bộ chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị và nông thôn được thu gom, xử lý; 100% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; mọi cơ sở gây ô nhiễm nghiêm trọng phải được xử lý triệt để và 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đạt quy chuẩn môi trường. Đây là những chỉ tiêu minh bạch, có thể kiểm đếm và đối chiếu trong suốt quá trình thực hiện.

Ngày 1/4/2026, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TU về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết này thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ của tỉnh trong việc gắn kết phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, đảm bảo an ninh môi trường và nâng cao chất lượng sống của Nhân dân, đồng thời nhấn mạnh sự chuyển dịch từ tư duy ứng phó sang chủ động phòng ngừa.

Đặt Nghị quyết số 14-NQ/TU trong tổng thể định hướng phát triển của tỉnh, có thể thấy rõ rằng bảo vệ môi trường đang được nhìn nhận không chỉ là một nhiệm vụ chuyên ngành đơn thuần, mà đã trở thành một nội dung cốt lõi của quản trị phát triển. Yếu tố môi trường phải được tích hợp ngay từ khâu quy hoạch; khi thu hút một dự án công nghiệp, cần xem xét toàn diện công nghệ sản xuất, nhu cầu sử dụng nước, lượng chất thải phát sinh và khả năng xử lý; khi tái cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cần tính toán đến sức khỏe của đất, nguồn nước, chất thải chăn nuôi và khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.

Những yêu cầu này cần được đặt ra và thực thi ngay từ giai đoạn lập quy hoạch, thu hút đầu tư và tổ chức sản xuất. Việc xây dựng đường sá, mở rộng đô thị phải đồng thời tính toán phương án thoát nước và xử lý nước thải hiệu quả. Thu hút các nhà máy phải cân nhắc kỹ lưỡng công nghệ, nguồn nước sử dụng và quy trình quản lý chất thải. Tổ chức chăn nuôi phải xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn. Việc chủ động thực hiện sớm các giải pháp này sẽ giảm thiểu đáng kể áp lực xử lý khi ô nhiễm đã xảy ra.

Kỳ I: Không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng
Hoạt động tuyên truyền về bảo vệ môi trường tại tỉnh Hưng Yên

Phát triển nhanh chóng, nhưng không đánh đổi bằng mọi giá

Năm 2026, Hưng Yên đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10,5%. Kế hoạch số 07/KH-UBND ngày 10/1/2026 về điều hành thực hiện phát triển kinh tế – xã hội năm 2026 đồng thời đặt ra các yêu cầu cụ thể đối với nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng, dịch vụ và đặc biệt là bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực nông nghiệp, tỉnh yêu cầu tiếp tục tái cơ cấu ngành, gắn liền với ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, nhằm nâng cao giá trị sản phẩm, đảm bảo an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái.

Nếu tăng trưởng kinh tế quá phụ thuộc vào việc khai thác tài nguyên thiếu bền vững, sử dụng công nghệ lạc hậu, tiêu hao năng lượng lớn và tạo ra lượng lớn chất thải, thì cái giá môi trường phải trả sẽ ngày càng cao. Ngược lại, nếu tăng trưởng dựa trên nền tảng năng suất, khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế tuần hoàn, sử dụng tài nguyên hiệu quả và chuyển đổi xanh, thì môi trường không còn là yếu tố phải “chịu đựng” tăng trưởng, mà trở thành động lực mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng chất lượng cao.

Đây chính là điểm giao thoa hài hòa giữa mục tiêu phát triển kinh tế và yêu cầu bảo vệ môi trường. Trong quá trình điều chỉnh Quy hoạch tỉnh, Hưng Yên đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt tỷ lệ đô thị hóa trên 55%, đồng thời đề ra những mục tiêu rất cao về thu gom, xử lý chất thải, cung cấp nước sạch và kiểm soát chặt chẽ các cơ sở sản xuất, kinh doanh.

Điều này đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với chính quyền: không chỉ chạy theo tốc độ phát triển mà còn phải nâng cao chất lượng quản trị tương xứng. Một tỉnh có thể xây dựng hàng loạt công trình hiện đại trong thời gian ngắn, nhưng nếu năng lực quản lý không theo kịp, những vấn đề môi trường sẽ tích tụ và trở nên trầm trọng.

Chủ động định hướng và thực thi nhiệm vụ bảo vệ môi trường

Trong khi ô nhiễm môi trường thường biểu hiện qua những vấn đề dễ dàng nhận diện trực tiếp, thì biến đổi khí hậu lại đặt ra một thách thức rộng lớn hơn: nó làm thay đổi căn bản các điều kiện phát triển tự nhiên và xã hội.

Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu đến năm 2050, được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022, đã thiết lập một khung định hướng dài hạn cho việc chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu và hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng “0”.

Đối với Hưng Yên, việc thích ứng với biến đổi khí hậu mang những đặc điểm riêng biệt, gắn liền với điều kiện tự nhiên, đặc thù sản xuất nông nghiệp, hệ thống sông ngòi dày đặc cùng với quá trình đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh mẽ của tỉnh.

Không phải mọi nguy cơ đều biểu hiện thành một thảm họa quy mô lớn. Đôi khi, biến đổi khí hậu được cảm nhận qua những thay đổi rất đỗi đời thường: mùa vụ xáo trộn, thời tiết bất thường, những đợt nắng nóng kéo dài, các trận mưa lớn gây ngập úng cục bộ, nhu cầu tưới tiêu gia tăng, và sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn.

Đây cũng là một trong những nội dung trọng tâm đã được ngành nông nghiệp và môi trường của tỉnh triển khai xuyên suốt những năm qua. Theo tổng hợp của Sở Nông nghiệp và Môi trường, công tác phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu đã được lồng ghép chặt chẽ vào kế hoạch sản xuất nông nghiệp; đồng thời, tỉnh triển khai các phương án chủ động phòng, chống úng, hạn hán, điều tiết nước và thau rửa nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường một cách hiệu quả.

Chính vì lẽ đó, Nghị quyết số 14-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh mang ý nghĩa không chỉ ở việc xác định rõ các mục tiêu môi trường, mà còn ở sự chuyển đổi tư duy chiến lược: từ bị động ứng phó sang chủ động phòng ngừa, từ xử lý từng vụ việc riêng lẻ sang quản trị rủi ro môi trường một cách tổng thể, gắn liền với công tác phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Nâng cao vai trò chủ thể của người dân trong bảo vệ môi trường

Bảo vệ môi trường, suy cho cùng, là câu chuyện về năng lực quản trị. Một hệ thống quản lý hiệu quả không chỉ là hệ thống phản ứng nhanh khi sự cố xảy ra, mà còn là hệ thống có khả năng nhận diện và phòng ngừa nguy cơ từ sớm.

Có những câu chuyện môi trường rất nhỏ nhưng lại ẩn chứa những bài học lớn. Tại xã Diên Hà, sau khi người dân phản ánh về tình trạng ô nhiễm do các trang trại chăn nuôi xả thải ra sông Cầu Chay và mương thủy lợi tại thôn Gia Lạp, chính quyền địa phương đã phối hợp cùng Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 8 của tỉnh tổ chức kiểm tra thực tế. Những tồn tại trong xử lý chất thải đã được xác định rõ, các hộ dân vi phạm được yêu cầu khắc phục, nâng cấp hệ thống xử lý và cam kết không xả trực tiếp chất thải ra môi trường.

Nếu chỉ nhìn nhận dưới góc độ một vụ việc đơn lẻ, đây là câu chuyện về việc xử lý một phản ánh môi trường. Tuy nhiên, nếu nhìn nhận dưới góc độ quản trị, nó minh chứng cho một nguyên tắc vô cùng quan trọng: chính quyền phải có khả năng chuyển hóa tiếng nói, phản ánh của người dân thành những hành động quản lý cụ thể và kịp thời.

Người dân không chỉ mong muốn một chính quyền chỉ biết tuyên truyền về bảo vệ môi trường. Điều họ cần là một chính quyền có khả năng giải quyết triệt để những vấn đề môi trường mà họ đang trực tiếp đối mặt.

Khi phản ánh được tiếp nhận và xử lý hiệu quả, người dân có thêm niềm tin và cơ sở để tiếp tục giám sát. Khi các hành vi vi phạm được kiểm tra và xử phạt nghiêm minh, doanh nghiệp sẽ có trách nhiệm tự điều chỉnh và tuân thủ. Do đó, hiệu quả quản lý môi trường không chỉ nằm ở các văn bản pháp lý mà còn thể hiện qua thời gian kiểm tra, chất lượng xử lý và mức độ khắc phục sau kiểm tra.

Tuy nhiên, việc quản lý chỉ bằng mệnh lệnh hành chính là chưa đủ. Môi trường là lĩnh vực liên quan đến hàng triệu hành vi nhỏ diễn ra mỗi ngày. Không thể cử cán bộ giám sát từng người dân để nhắc nhở họ không vứt rác. Không thể có đủ lực lượng kiểm tra để giám sát mọi cơ sở sản xuất mọi lúc. Và cũng không thể chỉ dựa vào xử phạt để xây dựng một xã hội xanh, sạch, đẹp. Điều cần xây dựng lâu dài và bền vững chính là ý thức và văn hóa môi trường trong cộng đồng.

Đây là lý do các phong trào như “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh – sạch – đẹp” có ý nghĩa sâu sắc nếu được tổ chức thực chất, gắn liền với những vấn đề cụ thể của từng địa bàn.

Ngày 06/6/2026, cùng với các địa phương trên toàn tỉnh, tại xã Hoàng Hoa Thám đã diễn ra hoạt động ra quân hưởng ứng phong trào “Toàn dân chung tay bảo vệ môi trường, vì một Việt Nam xanh – sạch – đẹp” theo Kế hoạch số 55/KH-MTTQ-BTT của Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh phát động. Hoạt động này có sự tham gia của cấp ủy, chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị – xã hội, cán bộ, công chức và đông đảo Nhân dân. Địa phương đã xác định đây là sự cụ thể hóa thiết thực của phong trào do MTTQ tỉnh phát động.

Nhìn từ bên ngoài, đó có thể chỉ là một buổi ra quân vệ sinh môi trường. Nhưng giá trị lớn hơn nằm ở khả năng huy động sức mạnh cộng đồng. Bảo vệ môi trường muốn bền vững phải trở thành công việc chung của toàn xã hội.

Tuy nhiên, điều cần tránh là biến phong trào thành hình thức. Một buổi ra quân không thể thay thế cho cơ chế thu gom rác ổn định và khoa học. Một khẩu hiệu không thể thay thế cho hạ tầng xử lý chất thải hiện đại. Một tấm pano không thể thay thế cho việc kiểm soát chặt chẽ nguồn thải. Và một ngày môi trường không thể thay thế cho trách nhiệm bảo vệ môi trường 365 ngày trong năm.

Hoạt động ra quân chỉ là bước khởi đầu. Muốn giảm thiểu rác thải lâu dài, cần phải có hệ thống điểm thu gom, lịch trình thu gom rõ ràng, phương tiện vận chuyển phù hợp, nơi xử lý chất thải đạt chuẩn và cơ quan, cá nhân chịu trách nhiệm cụ thể. Vì vậy, phong trào cần đi đôi với đầu tư hạ tầng và các quy định chi tiết, cụ thể hóa cho từng địa bàn.

Đảm bảo doanh nghiệp và người dân thấu hiểu đầy đủ chủ trương bảo vệ môi trường trong phát triển kinh tế – xã hội

Trong tiến trình công nghiệp hóa, doanh nghiệp đóng vai trò là một chủ thể đặc biệt quan trọng. Không thể xây dựng một nền kinh tế xanh nếu khu vực doanh nghiệp đứng ngoài quá trình chuyển đổi xanh này. Do đó, quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” phải được thể hiện xuyên suốt trong cách tỉnh lựa chọn, tổ chức và kiểm soát các hoạt động đầu tư, sản xuất. Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động phải hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn, lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và truyền dữ liệu trực tiếp về cơ quan quản lý; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh phải đảm bảo đạt quy chuẩn kỹ thuật môi trường và xử lý dứt điểm các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đây chính là cách cụ thể hóa yêu cầu môi trường từ một khẩu hiệu thành điều kiện tiên quyết của phát triển.

Trong kế hoạch phát triển 5 năm 2026-2030, Hưng Yên đã lượng hóa các mục tiêu đến năm 2030: 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh phải đạt quy chuẩn về môi trường và 100% cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được xử lý triệt để; 100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang hoạt động phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường. Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu môi trường đã được tích hợp vào cùng hệ thống chỉ tiêu phát triển, thay vì chỉ được xem là nhiệm vụ xử lý hậu quả.

Đây là những mục tiêu rất cao, song chính những mục tiêu thách thức này sẽ tạo ra áp lực mạnh mẽ để thúc đẩy đổi mới. Một doanh nghiệp muốn phát triển bền vững phải tính đến yếu tố môi trường ngay từ giai đoạn đầu tư. Một dự án muốn được cộng đồng chấp thuận phải chứng minh khả năng kiểm soát tác động môi trường. Một khu công nghiệp muốn nâng cao sức cạnh tranh phải có hạ tầng môi trường đồng bộ, hiện đại. Một sản phẩm muốn tham gia sâu vào thị trường quốc tế ngày càng phải đáp ứng những yêu cầu nghiêm ngặt về phát thải, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh.

Vì vậy, bảo vệ môi trường không còn chỉ là câu chuyện “chấp hành pháp luật” đơn thuần. Nó ngày càng trở thành một yếu tố cốt lõi của năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp nào chủ động chuyển đổi sớm sẽ có lợi thế vượt trội. Địa phương nào tạo dựng được môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp xanh sẽ nắm giữ ưu thế. Và nền kinh tế nào xây dựng được chuỗi sản xuất xanh sẽ có khả năng phát triển bền vững hơn.

Trong lĩnh vực hạ tầng môi trường, Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 09/01/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị đã đặt ra yêu cầu rõ ràng: các khu đô thị phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải; tỷ lệ nước thải đô thị được thu gom và xử lý phải từng bước đạt trên 50% đối với đô thị loại II trở lên và 30% đối với các đô thị còn lại. Kế hoạch đồng thời yêu cầu các khu đô thị, khu dân cư tập trung mới phải xây dựng hệ thống thu gom, xử lý nước thải tách biệt với nước mưa; với hệ thống thoát nước chung hiện hữu phải đầu tư cống bao, cống gom và công trình xử lý tập trung. Tư duy ở đây là chuyển dịch từ việc xử lý hậu quả sang đầu tư hạ tầng phòng ngừa ô nhiễm ngay từ đầu.

Trong bức tranh phát triển của Hưng Yên, nông nghiệp vẫn giữ một vị trí trọng yếu, mặc dù cơ cấu kinh tế đang chuyển dịch mạnh mẽ. Đặc thù của ngành nông nghiệp là sự phụ thuộc trực tiếp vào đất đai, nguồn nước và điều kiện khí hậu.

Kế hoạch phát triển ngành nông nghiệp và môi trường năm 2026 của Sở Nông nghiệp và Môi trường đã xác định mục tiêu xây dựng một nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa, ứng dụng công nghệ mới, đạt năng suất và chất lượng cao, thân thiện môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả các nguồn lực.

Chất thải chăn nuôi là một ví dụ điển hình. Nếu được xử lý đúng cách, chất thải có thể trở thành nguồn phân bón hữu cơ, khí sinh học hoặc đầu vào quý giá cho các mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngược lại, nếu không được xử lý, nó sẽ trở thành nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng cho nước, đất và không khí. Sự khác biệt nằm ở phương thức tổ chức sản xuất và quản lý.

Tuy nhiên, vượt xa việc xử lý từng trường hợp cụ thể, điều cần hướng tới là xây dựng một thói quen sản xuất mới bền vững. Người chăn nuôi phải xem việc xử lý chất thải là một phần không thể thiếu của chi phí sản xuất. Chính quyền phải xem quản lý chất thải chăn nuôi là một cấu phần trọng yếu của quản lý nông nghiệp.

Những kết quả minh chứng cụ thể cho người dân

Trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, có một vấn đề vô cùng quan trọng: muốn bảo vệ và củng cố niềm tin, phải tạo ra những kết quả thực tiễn để niềm tin có cơ sở vững chắc. Môi trường là một lĩnh vực rất thuận lợi để chứng minh điều đó.

Một chủ trương về phát triển bền vững có thể được kiểm chứng bằng chất lượng nguồn nước. Một chính sách về đô thị xanh có thể được kiểm chứng bằng không gian cây xanh, hệ thống giao thông công cộng, khả năng thoát nước và xử lý rác thải. Một chương trình thích ứng biến đổi khí hậu có thể được kiểm chứng bằng mức độ giảm thiểu thiệt hại khi thiên tai xảy ra. Một chính quyền gần dân có thể được kiểm chứng bằng tốc độ và chất lượng xử lý các phản ánh của người dân. Một doanh nghiệp có trách nhiệm có thể được kiểm chứng bằng việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định môi trường.

Những kết quả này có thể được kiểm tra bằng các số liệu cụ thể về nước sạch, tỷ lệ thu gom rác, số lượng cơ sở được kiểm tra, số tiền xử phạt vi phạm, số công trình xử lý nước thải và dữ liệu quan trắc môi trường. Càng công khai, minh bạch rõ ràng, việc đánh giá càng trở nên khách quan và cụ thể.

Trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, sức thuyết phục của thực tiễn luôn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Không phải mọi vấn đề đều có thể giải quyết ngay lập tức. Không phải mọi chỉ tiêu đều đạt được trong một thời gian ngắn. Và không phải mọi địa bàn đều có điều kiện giống nhau để thực hiện.

Hưng Yên đang đứng trước một giai đoạn phát triển mới với nhiều cơ hội rộng mở nhưng cũng không ít thách thức. Tỉnh đang đối mặt với yêu cầu tăng trưởng nhanh hơn, đô thị hóa mạnh mẽ hơn, công nghiệp phát triển vượt trội hơn, hạ tầng đồng bộ hơn và không gian kinh tế rộng lớn hơn. Nhưng chính những bước tiến này đòi hỏi trách nhiệm môi trường phải được nâng cao tương xứng. Không thể có một Hưng Yên hiện đại thực sự nếu môi trường không được bảo vệ một cách vững chắc.

Bởi vậy, mỗi con đường sạch hơn, mỗi dòng nước được bảo vệ tốt hơn, mỗi cơ sở sản xuất tuân thủ pháp luật nghiêm ngặt hơn, mỗi khu dân cư chủ động hơn trước thiên tai đều là một minh chứng cụ thể cho hiệu quả của đường lối phát triển đúng đắn. Không phải bằng khẩu hiệu sáo rỗng, mà bằng chính cuộc sống thường nhật; không phải bằng những lời hứa hẹn xa xôi, mà bằng những thay đổi cụ thể mà người dân có thể trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận và kiểm chứng.

Kỳ 2: Lấy sự thật để phản bác, lấy kết quả để củng cố niềm tin!

Ngọc Nha

Tài liệu tham khảo:

1). Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 03/6/2013, Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường.

2). Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng

3). Nghị quyết số 14-NQ/TU ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên về tăng cường bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

4). Nghị quyết số 821/NQ-HĐND ngày 31/12/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 05 năm 2026-2030 tỉnh Hưng Yên.

5). Nghị quyết số 832/NQ-HĐND ngày 25/02/2026 thông qua điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

6). Kế hoạch số 06/KH-UBND ngày 9/1/2026 về tăng cường năng lực thu gom, xử lý nước thải tập trung các đô thị trên địa bàn tỉnh.

7). Kế hoạch số 46/KH-UBND ngày 6/2/2026 triển khai Nghị quyết số 394/NQ-CP của Chính phủ đã đặt ra một hệ thống mục tiêu đến năm 2030.

Hotline đặt hàng
0966.632.682
0966.988.930
(Miễn phí, 8h30 – 21h cả T7, CN)

Bài viết dành cho bạn
image