Xử lý nước Wamax - Chuyên gia lọc nước giếng khoan, lọc nước sinh hoạt

Giám sát chất lượng môi trường: Đảm bảo nước, không khí sạch

Tăng cường giám sát, theo dõi chất lượng môi trường nước và không khí

Tây Ninh đã đạt được thành công nổi bật trong thu hút đầu tư và phát triển công nghiệp, với sự hình thành nhiều khu và cụm công nghiệp quy mô lớn. Tỉnh kiên định chiến lược phát triển kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường bền vững, ưu tiên các dự án công nghệ sạch và áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp kiểm soát ô nhiễm như xử lý nước thải tập trung, quan trắc môi trường. Nhờ đó, chất lượng môi trường không khí và nước tại Tây Ninh nhìn chung đạt mức khá tốt, giúp tỉnh thăng hạng ấn tượng trong Chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI). Để tiếp tục đà này, Tây Ninh đã ban hành kế hoạch chiến lược toàn diện, phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp và ngành nhằm tăng cường quản lý, kiểm soát ô nhiễm, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và kinh tế tuần hoàn, hướng tới mục tiêu phát triển xanh bền vững đến năm 2030.

Tối ưu hóa lợi thế, hài hòa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường bền vững

Trong nhiều năm qua, tỉnh Tây Ninh đã khẳng định vị thế dẫn đầu khu vực Đồng bằng sông Cửu Long về khả năng thu hút đầu tư, với sự hiện diện và hoạt động sôi nổi của nhiều doanh nghiệp và khu công nghiệp (KCN). Đáng chú ý, tỉnh Long An (cũ) liên tục giữ vững vị trí trong nhóm các địa phương hàng đầu cả nước về năng lực cạnh tranh. Theo quy hoạch được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt cho giai đoạn 2021 – 2030, toàn tỉnh Long An (cũ) dự kiến có 51 KCN với tổng diện tích lên đến 12.433 ha. Tính đến thời điểm hiện tại, 37 KCN đã được thành lập, chiếm diện tích 10.015,59 ha. Trong số đó, 26 KCN đã đáp ứng đầy đủ điều kiện tiếp nhận đầu tư với diện tích 5.982,14 ha, đạt tỷ lệ lấp đầy ấn tượng 69,22%. Ngoài ra, 11 KCN đã được chấp thuận chủ trương đầu tư và đang tích cực triển khai các thủ tục giải phóng mặt bằng cũng như xây dựng hạ tầng, với tổng diện tích 3.230,79 ha; 14 KCN khác cũng đang trong quá trình đầu tư. Song song đó, tỉnh Long An (cũ) cũng quy hoạch 72 cụm công nghiệp (CCN). Đến nay, 17 CCN đã đi vào hoạt động, bao phủ diện tích 857ha và đạt tỷ lệ lấp đầy 90,9%. Thêm vào đó, 25 CCN khác với tổng diện tích 1.278 ha đang được khẩn trương triển khai các thủ tục đầu tư và xây dựng hạ tầng kỹ thuật.

Quá trình phát triển công nghiệp của tỉnh luôn gắn liền với sự quan tâm sâu sắc đến công tác bảo vệ môi trường. Trong chiến lược thu hút đầu tư, tỉnh kiên định ưu tiên các dự án ứng dụng công nghệ hiện đại, sạch, tiết kiệm năng lượng và thân thiện môi trường, đồng thời kiên quyết hạn chế các ngành nghề tiềm ẩn rủi ro gây ô nhiễm. Mọi doanh nghiệp phát triển hạ tầng KCN, CCN đều phải hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi đi vào vận hành và tiếp nhận đầu tư. Đối với các KCN, CCN đang hoạt động, việc vận hành hệ thống xử lý nước thải phải tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật và thực hiện quan trắc môi trường nghiêm ngặt theo quy định.

Song song đó, nhằm bảo vệ và kiểm soát chất lượng môi trường không khí trên toàn tỉnh, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã triển khai một loạt giải pháp đồng bộ, hướng đến việc hạn chế tối đa các nguồn phát sinh chất gây ô nhiễm. Chỉ riêng trong năm 2024, Sở đã tiến hành quan trắc định kỳ chất lượng không khí tại 34 vị trí trọng điểm thuộc các khu dân cư tập trung trải dài khắp các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh. Đồng thời, hai trạm quan trắc tự động cũng đã được vận hành tại Thành phố Tây Ninh và thị xã Trảng Bàng, phục vụ mục tiêu giám sát chất lượng khí thải, cung cấp dữ liệu nền tảng cho việc nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng không khí. Sau quá trình khảo sát kỹ lưỡng và thu thập mẫu để đánh giá hiện trạng, kết quả quan trắc cho thấy chất lượng môi trường không khí trên địa bàn tỉnh nhìn chung đạt mức khá tốt. Tuy nhiên, tại các khu vực trung tâm đô thị và nút giao thông trọng yếu của thị xã Trảng Bàng, một số thông số như SO2, NOx, CO được ghi nhận ở mức cao hơn so với Thành phố Tây Ninh. Đặc biệt, giá trị trung bình của tổng bụi lơ lửng (TSP) và bụi PM10 trong giai đoạn 2021-2022 đã vượt quy chuẩn cho phép từ 1,2 đến 1,8 lần. Dựa trên những kết quả này, Sở đã đưa ra đánh giá khách quan về công tác quản lý và kiểm soát ô nhiễm không khí trong thời gian qua, từ đó xây dựng kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí một cách toàn diện. Kế hoạch này tập trung xác định các nguồn gây ô nhiễm chính, đề xuất các giải pháp cụ thể và đồng bộ nhằm đạt mục tiêu giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn phát thải theo lộ trình chung đến năm 2030. Sở cũng chủ động tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh triển khai xây dựng hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới quan trắc môi trường không khí (bao gồm môi trường xung quanh và môi trường tác động) ứng dụng công nghệ giám sát hiện đại, kết hợp với cơ sở dữ liệu môi trường đồng bộ, nhằm tăng cường khả năng kiểm soát, chủ động ứng phó và quản lý hiệu quả. Ngoài ra, công tác phối hợp với các cơ quan chức năng và địa phương cũng được đẩy mạnh nhằm tăng cường kiểm soát nguồn phát thải khí, duy trì và cải thiện chất lượng không khí tại các khu vực đô thị, nông thôn và KCN tập trung. Việc kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm của các cơ sở, dự án, công trình gây ô nhiễm môi trường không khí cũng được chú trọng. Đáng mừng, các kết quả quan trắc môi trường không khí gần đây tại các KCN và CCN trên địa bàn đều cho thấy chất lượng tốt, với các thông số về khí CO, NO2, SO2, bụi… tại các điểm lấy mẫu đều đạt quy chuẩn cho phép, nằm trong giới hạn của QCVN 05:2013/BTNMT (hiện đã được thay thế bằng Quy chuẩn QCVN 05:2023/BTNMT).

Tăng cường giám sát, theo dõi chất lượng môi trường nước và không khí
Đầu tư mảng xanh trong các khu, cụm công nghiệp góp phần kiến tạo môi trường không khí trong lành hơn

Về môi trường nước, toàn bộ 100% KCN hiện đang hoạt động đã hoàn tất xây dựng và duy trì vận hành thường xuyên các nhà máy xử lý nước thải tập trung theo đúng quy định. Qua các đợt kiểm tra, đa số hệ thống xử lý nước thải tập trung tại các KCN đều đạt quy chuẩn xả thải cho phép. Hiện tại, các công trình xử lý nước thải này hoạt động ổn định và công suất vận hành thường thấp hơn so với công suất thiết kế. Các KCN cũng đã được cấp giấy xác nhận hoàn thành các công trình và biện pháp bảo vệ môi trường phục vụ giai đoạn vận hành, dựa trên báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt. Nhờ vào hệ thống trạm quan trắc tự động và các đợt quan trắc định kỳ, các cơ quan chức năng có thể nhanh chóng nắm bắt tình hình, kịp thời đưa ra cảnh báo và đề xuất giải pháp xử lý. Công tác quan trắc định kỳ còn cung cấp dữ liệu quan trọng để so sánh, đánh giá diễn biến chất lượng môi trường theo thời gian và không gian. Kết quả theo dõi trong những năm gần đây cho thấy, phần lớn chất lượng nước mặt tại các vị trí đo đạc đều nằm trong giới hạn quy chuẩn cho phép, khẳng định nỗ lực không ngừng của tỉnh trong việc quản lý hiệu quả nguồn thải từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt.

Có thể khẳng định, với quan điểm kiên định “phát triển công nghiệp song hành cùng bảo vệ môi trường”, tuyệt đối không hy sinh môi trường vì lợi ích tăng trưởng kinh tế ngắn hạn, cùng sự đồng lòng nỗ lực của toàn bộ hệ thống chính trị và cộng đồng, tỉnh Tây Ninh đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận. Tỉnh đã vươn lên vị trí thứ 12 cả nước trong bảng xếp hạng Chỉ số Xanh cấp tỉnh (PGI) năm 2023 và tiếp tục thăng hạng lên vị trí thứ 6 toàn quốc trong bảng xếp hạng PGI năm 2024. Đây là minh chứng rõ nét cho sự cân bằng và hài hòa mà Tây Ninh đã thiết lập giữa phát triển kinh tế và công tác bảo vệ môi trường bền vững.

Kế hoạch chiến lược: Vươn tầm phát triển xanh và bền vững

Mới đây, Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đã chính thức ban hành Công văn số 3831/UBND-KTTC ngày 3/9/2025, tập trung triển khai các nhiệm vụ cấp bách và quyết liệt nhằm ngăn chặn, giải quyết triệt để tình trạng ô nhiễm môi trường. Thực hiện theo tinh thần Chỉ thị số 20/CT-TTg ngày 12/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ về cùng nội dung, UBND tỉnh đã chỉ đạo Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các Sở, ban, ngành và UBND các xã, phường trên địa bàn tỉnh khẩn trương rà soát, thực thi nghiêm túc các quy định về bảo vệ môi trường. Mục tiêu là nâng cao hiệu quả thực thi, đồng thời đảm bảo sự phù hợp với công tác sắp xếp tổ chức bộ máy trong hệ thống chính trị và mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tỉnh cũng yêu cầu tăng cường chỉ đạo, điều hành, tổ chức thực hiện các chiến lược, đề án, dự án và nhiệm vụ về bảo vệ môi trường trong phạm vi quản lý và trách nhiệm, đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc “6 rõ”. Ưu tiên hàng đầu là đầu tư và huy động mọi nguồn lực xã hội để giải quyết các vấn đề môi trường trọng điểm, cấp bách. Công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân theo đúng thẩm quyền sẽ được đẩy mạnh. Bên cạnh đó, việc tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ thuộc lĩnh vực quản lý cũng được chú trọng. Tỉnh cũng thúc đẩy mạnh mẽ ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và kêu gọi nguồn lực từ khu vực tư nhân, đẩy mạnh hợp tác công tư trong công tác bảo vệ môi trường.

Đối với Sở Nông nghiệp và Môi trường: Tiếp tục cải thiện chất lượng công tác thẩm định, phê duyệt kết quả báo cáo đánh giá tác động môi trường và cấp Giấy phép môi trường. Tăng cường thanh kiểm tra đối với các đối tượng tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao, bao gồm các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn, nước thải, khí thải, đồng thời xử lý nghiêm khắc mọi hành vi vi phạm. Song song đó, Sở sẽ công khai danh sách các cơ sở sản xuất công nghiệp thuộc diện phải lắp đặt, đã lắp đặt hoặc chưa lắp đặt thiết bị quan trắc môi trường tự động, liên tục trên các phương tiện thông tin đại chúng và cổng thông tin điện tử của tỉnh. Sở cũng sẽ đôn đốc, hướng dẫn các cơ sở chưa thực hiện khẩn trương hoàn thành việc lắp đặt và truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường, Trung tâm Điều hành Phát triển Kinh tế – Xã hội của tỉnh (IOC) và Bộ Nông nghiệp và Môi trường theo đúng quy định. Hơn nữa, nội dung, tiến độ và thời hạn thực hiện các chương trình, đề án, dự án nhằm giải quyết các vấn đề môi trường cũng sẽ được công khai để các cơ quan, tổ chức và nhân dân có thể tham gia phản biện, giám sát quá trình triển khai.

Cùng với đó, việc xây dựng hệ thống giám sát tài nguyên nước tự động, trực tuyến sẽ được triển khai, công bố trên các cổng, trang thông tin điện tử của Sở, Ủy ban nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp xã có liên quan, và đồng bộ hóa với hệ thống giám sát quốc gia. Hàng năm, Sở sẽ phối hợp với Sở Tài chính bố trí kinh phí sự nghiệp môi trường không thấp hơn 1% tổng chi ngân sách, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa và huy động mọi nguồn lực nhằm xử lý, khắc phục ô nhiễm tại các khu vực (kênh, rạch, ao hồ) và các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Tỉnh cũng sẽ ban hành các chính sách hỗ trợ phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở gây ô nhiễm thực hiện xử lý triệt để (như thay đổi công nghệ sản xuất hoặc chuyển đổi ngành nghề hoạt động không gây ô nhiễm). Nguồn lực đất đai và cơ chế ưu đãi sẽ được dành cho các hoạt động tái chế chất thải theo mô hình kinh tế tuần hoàn, hướng đến giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng chất thải hiệu quả và sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường từ hoạt động tái chế. Bên cạnh đó, Sở sẽ nghiên cứu và đề xuất việc nâng phí bảo vệ môi trường đối với nước thải. Đặc biệt, Sở sẽ tập trung tối đa nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ triển khai các chương trình, đề án, dự án, nhiệm vụ và giải pháp về bảo vệ môi trường, hướng tới đạt được các mục tiêu kiểm soát, khắc phục ô nhiễm trong năm 2025 và phấn đấu hoàn thành trước năm 2030, đặc biệt là các mục tiêu, chỉ tiêu liên quan đến môi trường nước và không khí.

Sở Xây dựng: Có trách nhiệm đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy nhanh chóng việc xây dựng hệ thống giao thông công cộng hiện đại, qua đó hạn chế sự gia tăng không kiểm soát của phương tiện giao thông cá nhân tại các khu vực đô thị. Thay vào đó, Sở sẽ khuyến khích mạnh mẽ việc sử dụng các phương tiện giao thông thân thiện môi trường, góp phần giảm thiểu phát thải gây ô nhiễm không khí. Công tác kiểm soát khí thải đối với xe cơ giới sẽ được tăng cường, áp dụng nghiêm ngặt các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải của phương tiện giao thông cơ giới đường bộ. Đồng thời, Sở sẽ đề xuất các cơ chế ưu đãi hấp dẫn nhằm thu hút nhà đầu tư vào lĩnh vực hạ tầng chuyển đổi xanh và sản xuất phương tiện giao thông thân thiện môi trường. Song song đó, Sở sẽ nghiên cứu, đề xuất điều chỉnh tăng giá dịch vụ thoát nước, xử lý nước thải và xây dựng cơ chế sử dụng nguồn kinh phí này một cách hiệu quả, chủ yếu tập trung vào đầu tư xây dựng và vận hành hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung tại các đô thị. Nguồn lực tối đa sẽ được dồn vào việc đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tập trung tại các đô thị. Sở cũng sẽ kiểm soát nghiêm ngặt việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các công trình xây dựng và đối với phương tiện vận tải hàng hóa, vật liệu xây dựng, nhằm ngăn chặn hiệu quả ô nhiễm không khí do bụi, đặc biệt tại khu vực đô thị và các tuyến đường vành đai.

Ban Quản lý các Khu kinh tế: Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát chặt chẽ quá trình đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật của các chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN và khu chế xuất. Mục tiêu là đảm bảo 100% các KCN, khu chế xuất trên địa bàn tỉnh phải có hệ thống thu gom, xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường. Ban sẽ chủ trì, phối hợp với các chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng KCN, khu chế xuất để thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động thu gom, thoát nước và xử lý nước thải của các doanh nghiệp thứ cấp đang hoạt động trong KCN, khu chế xuất. Điều này nhằm đảm bảo toàn bộ lượng nước thải phát sinh được thu gom triệt để và dẫn về hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, khu chế xuất để xử lý đạt quy chuẩn. Đối với các doanh nghiệp được miễn trừ đấu nối, yêu cầu phải thường xuyên kiểm soát để đảm bảo nước thải đạt quy chuẩn quy định trước khi thải ra môi trường (khuyến khích mạnh mẽ việc đầu tư lắp đặt hệ thống quan trắc tự động, liên tục để giám sát chất lượng nước thải đầu ra sau xử lý). Ban cũng sẽ kịp thời phát hiện và phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm về bảo vệ môi trường theo đúng quy định pháp luật.

UBND các xã, phường: Chỉ đạo phòng chuyên môn nghiêm túc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Thông tư số 19/2025/TT-BNNMT ngày 19/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, cũng như Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Song song đó, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các đối tượng có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường và các đơn vị, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu gom, vận chuyển chất thải thuộc thẩm quyền quản lý. Các cấp chính quyền xã, phường cần có giải pháp khắc phục, xử lý dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí…) tại các làng nghề trên địa bàn quản lý (nếu có) và xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm. Đề xuất kinh phí chi sự nghiệp môi trường để xử lý, khắc phục các nguồn ô nhiễm tại các khu vực, cơ sở gây ô nhiễm trên địa bàn. Đồng thời, bố trí quỹ đất và các cơ chế ưu đãi phù hợp cho các hoạt động tái chế chất thải theo mô hình kinh tế tuần hoàn, nhằm giảm thiểu, tái chế và tái sử dụng chất thải một cách hiệu quả, hướng đến sản xuất các sản phẩm thân thiện môi trường từ hoạt động tái chế.

Các khu, CCN, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ: Cần thường xuyên kiểm tra, rà soát và đánh giá kỹ lưỡng việc vận hành các hạng mục, công trình thuộc hệ thống xử lý nước thải, bao gồm cả đường ống thu gom và chuyển nước thải giữa các hạng mục công trình. Kịp thời xây dựng kế hoạch cải tạo, nâng cấp hoặc thay thế các hạng mục, đường ống xử lý nước thải và gia cố các bờ bao ao, hồ chứa nước thải đã xuống cấp. Đồng thời, tiến hành tháo dỡ các đường ống không còn sử dụng hoặc không liên quan đến công tác thu gom, xử lý nước thải. Việc lấy mẫu giám sát nước thải sau xử lý phải được thực hiện định kỳ với tần suất chính xác, gửi đến đơn vị đã được Bộ Nông nghiệp và Môi trường cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường để phân tích, đánh giá. Đảm bảo nước thải sau xử lý đạt quy chuẩn quy định mới được phép xả ra môi trường theo báo cáo đánh giá tác động môi trường và Giấy phép môi trường đã được phê duyệt, cấp phép. Ngoài ra, các đơn vị cần ban hành và tổ chức thực hiện kế hoạch phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường một cách nghiêm túc; công khai kế hoạch ứng phó sự cố môi trường; bố trí đầy đủ lực lượng, phương tiện, trang thiết bị sẵn sàng ứng phó sự cố chất thải. Việc tổ chức diễn tập ứng phó sự cố chất thải theo kế hoạch đã phê duyệt là bắt buộc, nhằm đáp ứng các yêu cầu quy định tại khoản 1, Điều 124 Luật Bảo vệ môi trường; khoản 1, Điều 109, khoản 3, Điều 110 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/1/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.

Đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc diện phải lắp đặt thiết bị quan trắc nước thải, khí thải tự động, liên tục theo quy định tại Điều 97, Điều 98 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP, cần khẩn trương tiến hành lắp đặt, kết nối và truyền dữ liệu về Sở Nông nghiệp và Môi trường. Việc này phải đảm bảo tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu kỹ thuật quy định tại Thông tư số 10/2021/TT-BTNMT ngày 30/6/2021 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường về kỹ thuật quan trắc môi trường và quản lý thông tin, dữ liệu quan trắc chất lượng môi trường.

Hotline đặt hàng
0966.632.682
0966.988.930
(Miễn phí, 8h30 – 21h cả T7, CN)

Bài viết dành cho bạn
image