Nghiên cứu chỉ ra hoạt động công nghiệp là nguyên nhân chính gây ô nhiễm bụi mịn PM2.5 và phát sinh lượng lớn nước thải tại Hà Nội, trong khi công tác giám sát hiện còn hạn chế. Để giải quyết vấn đề này, Thành phố đang triển khai Nghị quyết mới từ 01/7/2026, yêu cầu 13 loại hình sản xuất phải quan trắc nước thải tự động, liên tục và 5 loại hình khác phải quan trắc bụi, khí thải. Mức xả thải sẽ bị siết chặt dần, giảm từ 0,9 lần quy định hiện hành xuống 0,8 lần từ năm 2031, đồng thời phân công trách nhiệm rõ ràng cho các sở ban ngành trong việc triển khai và xử lý vi phạm. Bên cạnh đó, Hà Nội còn đẩy mạnh kiểm soát ô nhiễm từ công trình xây dựng, cải thiện quản lý rác thải sinh hoạt và chuyển đổi sang xăng sinh học E10/E5 từ 01/6/2026. Những nỗ lực này nhằm mục tiêu chuyển đổi sang mô hình quản trị môi trường chủ động, bền vững, nâng cao chất lượng môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Theo kết quả nghiên cứu chuyên sâu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường giai đoạn 2023-2025, hoạt động công nghiệp được xác định là nguyên nhân chính, đóng góp khoảng 10% tổng lượng bụi mịn PM2.5 trên toàn địa bàn. Đối với riêng nguồn phát thải nội tại của Hà Nội, lĩnh vực công nghiệp trực tiếp chiếm khoảng 2% lượng phát thải gây ô nhiễm không khí.
Về vấn đề nước thải công nghiệp, Hà Nội hiện có 10 Khu công nghiệp, 70 cụm công nghiệp, khoảng 1.350 làng nghề cùng hơn 400 cơ sở sản xuất bên ngoài các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động. Tổng lượng nước thải phát sinh từ các nguồn này ước tính khoảng 33.400 m³ mỗi ngày đêm, chiếm 3,21% tổng lượng nước thải đô thị của thành phố. Tuy nhiên, thực trạng công tác kiểm tra, giám sát định kỳ hiện nay còn nhiều hạn chế, chưa đủ khả năng theo dõi diễn biến phát thải theo thời gian thực một cách hiệu quả.
![]() |
| Theo quy định mới, 13 loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải, và 5 loại hình khác phải quan trắc bụi, khí thải. |
Nhiều thách thức môi trường chỉ được phát hiện khi có phản ánh từ cộng đồng hoặc sau các đợt kiểm tra của cơ quan chức năng, dẫn đến tình trạng xử lý bị động và khó khăn trong việc xác định chính xác thời điểm, mức độ, nguyên nhân cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan. Do đó, việc đồng bộ hóa và triển khai quyết liệt các giải pháp quản lý, đặc biệt là chủ động rà soát, lắp đặt hệ thống giám sát quan trắc tự động, liên tục, là cực kỳ cần thiết. Điều này sẽ hỗ trợ Thành phố nâng cao năng lực điều hành, dự báo sớm các tác động môi trường, đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số và tối ưu hóa hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường, hướng tới cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân trong tương lai.
Ban hành Quy định về loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải quan trắc tự động, liên tục nước thải, bụi, khí thải
Một trong những nội dung trọng yếu nhằm tăng cường hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường là việc ban hành Quy định về các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ bắt buộc phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải.
Theo Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND, ban hành quy định các biện pháp quan trắc chất thải công nghiệp đối với một số loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn thành phố, từ ngày 01/7/2026, Hà Nội sẽ áp dụng mức lưu lượng xả nước thải, bụi, khí thải công nghiệp bằng 0,9 lần mức lưu lượng tương ứng theo quy định hiện hành của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với từng đối tượng phải quan trắc tự động, liên tục.
Đặc biệt, bắt đầu từ năm 2031, Thành phố sẽ tiếp tục siết chặt quy định, áp dụng mức lưu lượng xả nước thải, bụi, khí thải công nghiệp bằng 0,8 lần mức lưu lượng tương ứng theo quy định của Chính phủ, Bộ, cơ quan ngang bộ với từng đối tượng phải quan trắc tự động, liên tục.
Song hành với lộ trình này, Hội đồng nhân dân Thành phố Hà Nội cũng đã ban hành Danh mục cụ thể, trong đó xác định 13 loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ cao gây ô nhiễm môi trường phải thực hiện quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải, và 5 loại hình khác phải quan trắc bụi, khí thải.
Chi tiết tại phụ lục kèm theo Nghị quyết của HĐND Thành phố, danh mục các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường yêu cầu quan trắc tự động, liên tục đối với nước thải bao gồm 13 loại.
Cụ thể, danh mục này bao gồm: sản xuất thủy tinh (trừ loại hình chỉ sử dụng nhiên liệu điện, khí, dầu DO và không có công đoạn tinh chế silic); sản xuất kim loại (trừ trường hợp chỉ có một hoặc nhiều công đoạn: cán, kéo, đúc từ phôi nguyên liệu); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy (có công đoạn sản xuất bột giấy hoặc sử dụng nguyên liệu tái chế); sản xuất hóa chất vô cơ cơ bản (trừ khí công nghiệp), phân bón hóa học (trừ các công đoạn: nghiền, phối trộn, ép viên, xử lý bề mặt (làm bóng), sấy, làm nguội, sang chiết, đóng gói)…
Danh mục cũng liệt kê các loại hình sản xuất vải, sợi, dệt may (có một trong các công đoạn: nhuộm, giặt mài, nấu sợi); sản xuất da (có công đoạn thuộc da); thuộc da; dịch vụ tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường; dịch vụ tái chế, xử lý chất thải nguy hại; hoạt động nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài để làm nguyên liệu sản xuất.
Ngoài ra, còn có sản xuất sản phẩm có công đoạn mạ kim loại; sản xuất pin, ắc quy (có một trong các công đoạn: sản xuất điện cực, bản cực, sản xuất/pha chế chất điện phân, sản xuất phần tử pin (cell pin)); chế biến mủ cao su; sản xuất tinh bột sắn, bột ngọt; sản xuất bia, nước giải khát có gas, rượu (trừ chỉ pha chế rượu từ cồn).
Các loại hình chế biến thủy sản; cơ sở giết mổ gia súc, gia cầm; chăn nuôi gia súc (trong trường hợp nước thải nhập cùng nước thải công nghiệp); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và thiết bị quang học (có một trong các công đoạn: mạ, phủ màu bằng sơn hoặc hóa chất, làm sạch bằng hóa chất độc, gia công, sửa chữa hàng hóa thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ thông tin đã qua sử dụng cấm nhập khẩu cho thương nhân nước ngoài để tiêu thụ ở nước ngoài) cũng nằm trong danh mục này.
Đối với quan trắc bụi và khí thải, danh mục các loại hình sản xuất, kinh doanh dịch vụ bắt buộc thực hiện bao gồm: sản xuất gang, thép, luyện kim (trừ cán, kéo, đúc từ phôi nguyên liệu); sản xuất hóa chất vô cơ cơ bản (trừ khí công nghiệp), phân bón vô cơ và hóa chất ni tơ (trừ phối trộn, sang chiết, đóng gói), thuốc bảo vệ thực vật hóa học (trừ phối trộn, sang chiết);
Bên cạnh đó, danh mục còn bổ sung các loại hình tái chế, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải nguy hại; sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất; sản xuất xi măng…
Không chỉ dừng lại ở việc quy định các loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ phải quan trắc tự động, liên tục nước thải, bụi, khí thải, Công văn 3124/UBND-NNMT còn cụ thể hóa nội dung và phân công rõ ràng trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị trong triển khai Nghị quyết 61/2026/NQ-HĐND.
UBND Thành phố giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, rà soát, lập và định kỳ cập nhật danh sách các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng tại các Phụ lục của Nghị quyết. Đồng thời, phân loại theo mức lưu lượng, công suất và thời điểm yêu cầu hoàn thành việc lắp đặt, vận hành hệ thống quan trắc tự động, liên tục. Bên cạnh đó, Sở còn có nhiệm vụ xây dựng Quy định quản lý, giám sát hoạt động quan trắc tự động, liên tục và cơ chế chia sẻ dữ liệu quan trắc phục vụ công tác quản lý nhà nước, trình UBND Thành phố xem xét, ban hành trong năm 2026. Ngoài ra, Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng chịu trách nhiệm hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền, phổ biến Nghị quyết đến các cơ quan quản lý và các cơ sở thuộc đối tượng áp dụng.
Thành phố yêu cầu các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng chủ động rà soát quy mô, lưu lượng, công suất và các yêu cầu trong giấy phép môi trường của mình. Đồng thời, cần xây dựng kế hoạch và bố trí nguồn lực cần thiết để đầu tư hệ thống quan trắc tự động, liên tục, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn quy định. Ảnh minh họa
Cùng với đó, các đơn vị liên quan cần rà soát nội dung giấy phép môi trường thuộc thẩm quyền; hướng dẫn cụ thể về việc xác định thông số, vị trí, yêu cầu kỹ thuật, cũng như quy trình kết nối và truyền dữ liệu quan trắc tự động, liên tục theo Nghị quyết và pháp luật về bảo vệ môi trường, đảm bảo không phát sinh các thủ tục hành chính không cần thiết.
Việc rà soát và nâng cấp hạ tầng kỹ thuật để tiếp nhận, lưu trữ, quản lý và khai thác dữ liệu quan trắc tự động, liên tục là cần thiết, nhằm đảm bảo kết nối ổn định, an toàn thông tin và khả năng tiếp nhận đồng thời dữ liệu từ nhiều cơ sở. Xây dựng công cụ cảnh báo sớm và phân tích dữ liệu bất thường sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm.
Đối với Ban quản lý các Khu công nghệ cao và Khu công nghiệp thành phố Hà Nội, cần lồng ghép các yêu cầu của Nghị quyết vào quá trình thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về môi trường theo thẩm quyền, đồng thời phối hợp chặt chẽ trong việc kiểm tra lắp đặt, vận hành và truyền dữ liệu quan trắc tự động, liên tục.
Sở Công Thương được giao trách nhiệm phối hợp rà soát, cung cấp thông tin chi tiết về các cơ sở sản xuất công nghiệp, cụm công nghiệp, cơ sở hóa chất, luyện kim, vật liệu xây dựng và các loại hình có nguy cơ gây ô nhiễm thuộc phạm vi quản lý. Đồng thời, phối hợp tuyên truyền, hướng dẫn doanh nghiệp xây dựng kế hoạch đầu tư, đổi mới công nghệ và bố trí nguồn lực để triển khai Nghị quyết một cách hiệu quả.
Thành phố yêu cầu Sở Khoa học và Công nghệ phối hợp hướng dẫn, kiểm tra các yêu cầu liên quan đến tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng thiết bị quan trắc; cũng như công tác kiểm định, hiệu chuẩn theo quy định. Sở sẽ phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường để đảm bảo hạ tầng số, an toàn thông tin, kết nối và chia sẻ dữ liệu; đồng thời nghiên cứu ứng dụng công nghệ số, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo trong việc phát hiện dữ liệu bất thường và cảnh báo sớm ô nhiễm.
Công an Thành phố được chỉ đạo chỉ đạo lực lượng chức năng phối hợp kiểm tra, xác minh và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường liên quan đến hệ thống quan trắc tự động, liên tục. Đặc biệt chú trọng đến các hành vi can thiệp thiết bị, làm sai lệch dữ liệu hoặc gian lận trong vận hành và truyền số liệu.
Đối với UBND các xã, phường, cần tổ chức tuyên truyền, phổ biến sâu rộng Nghị quyết đến các tổ chức, cá nhân trên địa bàn. Đồng thời, phối hợp rà soát, lập danh sách các cơ sở thuộc đối tượng áp dụng và gửi về Sở Nông nghiệp và Môi trường để tổng hợp.
Cùng với đó, các địa phương cần theo dõi, đôn đốc các cơ sở trên địa bàn xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực, lắp đặt, vận hành và kết nối dữ liệu đúng thời hạn. Tăng cường kiểm tra, giám sát theo chức năng, nhiệm vụ và thẩm quyền, kịp thời thông báo các dấu hiệu bất thường, phản ánh và kiến nghị của người dân đến cơ quan chuyên môn để xử lý.
Thành phố yêu cầu các dự án đầu tư, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc đối tượng áp dụng chủ động rà soát quy mô, lưu lượng, công suất và các yêu cầu trong giấy phép môi trường. Cần xây dựng kế hoạch và bố trí nguồn lực để đầu tư hệ thống quan trắc tự động, liên tục, đảm bảo hoàn thành đúng thời hạn. Đồng thời, lựa chọn thiết bị, đơn vị cung cấp dịch vụ đáp ứng đầy đủ các quy định; thực hiện nghiêm túc việc lắp đặt, vận hành, kiểm định, hiệu chuẩn, bảo trì, truyền, lưu giữ dữ liệu và công khai thông tin theo đúng pháp luật về bảo vệ môi trường.
Siết chặt quản lý môi trường vì sức khỏe cộng đồng
Tiếp nối Công văn số 3124/UBND-NNMT về triển khai Nghị quyết số 61/2026/NQ-HĐND ngày 15/6/2026, quy định các biện pháp quan trắc về chất thải công nghiệp đối với một số loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ trên địa bàn Hà Nội, UBND Thành phố Hà Nội đã ban hành Công văn số 2986/UBND-NNMT. Văn bản này yêu cầu các Sở, ngành và UBND các xã, phường tập trung triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm khắc phục triệt để những tồn tại trong công tác bảo vệ môi trường. Động thái này khẳng định quyết tâm mạnh mẽ của Thành phố trong việc chuyển đổi từ phương thức xử lý sự vụ sang mô hình quản trị môi trường chủ động, bền vững, với sức khỏe của người dân là ưu tiên hàng đầu.
Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh trọng tâm vào việc kiểm soát chặt chẽ các nguồn phát thải và tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về bảo vệ môi trường tại các công trình xây dựng.
Theo đó, Sở Xây dựng được giao trách nhiệm phối hợp với chính quyền các địa phương để đôn đốc các ban quản lý dự án, chủ đầu tư và nhà thầu thực hiện nghiêm ngặt các biện pháp hạn chế phát sinh bụi trong quá trình thi công, phá dỡ công trình, đồng thời đảm bảo vệ sinh môi trường theo đúng quy định hiện hành.
![]() |
| Việc quyết liệt xử lý các “điểm nghẽn” môi trường là yêu cầu cấp thiết để cải thiện chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân trong thời gian tới. |
Yêu cầu này trở nên cấp thiết trong bối cảnh Hà Nội đang triển khai hàng loạt dự án hạ tầng và phát triển đô thị quy mô lớn. Thực tế đáng lo ngại cho thấy, tại nhiều công trường, tình trạng xe vận chuyển vật liệu không che chắn, đất đá rơi vãi, bụi phát tán tràn lan ra môi trường vẫn còn phổ biến, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống và sức khỏe của người dân sinh sống tại các khu vực lân cận.
Việc kiểm soát chặt chẽ nguồn phát thải từ các hoạt động xây dựng được kỳ vọng sẽ góp phần cải thiện đáng kể chất lượng không khí, giảm thiểu nguy cơ mắc các bệnh về đường hô hấp và nâng cao chất lượng môi trường sống cho người dân Thủ đô.
Bên cạnh việc siết chặt quản lý nguồn thải, Thành phố Hà Nội cũng đang chuyển mình mạnh mẽ trong các hoạt động bảo vệ môi trường, điển hình là việc hoàn thiện đồng bộ hạ tầng kỹ thuật cho việc phân loại, thu gom, vận chuyển, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt sau phân loại. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và cơ giới hóa trong thu gom rác, hướng tới mục tiêu xây dựng một Thủ đô “Sáng – Xanh – Sạch – Đẹp”, văn minh, hiện đại, phát triển bền vững, thân thiện với con người và thiên nhiên.
Thành phố cam kết mạnh mẽ thực hiện lộ trình giảm thiểu phát sinh chất thải rắn, đẩy mạnh hoạt động tái chế rác thải, cũng như xử lý, cải tạo và phục hồi môi trường tại các khu vực ô nhiễm do rác thải. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm giảm phát sinh chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn, gắn liền với việc thay đổi hành vi tiêu dùng, hướng đến hạn chế tối đa và tiến tới không sử dụng chất thải nhựa dùng một lần (trừ các sản phẩm được chứng nhận Nhãn sinh thái Việt Nam). Bên cạnh đó, Thành phố cũng thúc đẩy phát triển hoạt động tái chế, tái sử dụng chất thải, hình thành và phát triển ngành công nghiệp tái chế phù hợp với điều kiện thực tế, ưu tiên tận dụng, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, trang thiết bị và cơ sở sản xuất hiện có để tham gia vào hoạt động tái chế, xử lý, đồng xử lý rác thải, đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả, tránh lãng phí.
Tăng cường công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm là yếu tố then chốt. Thành phố sẽ xây dựng kế hoạch giám sát chặt chẽ việc phân loại, tiếp nhận, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải sinh hoạt của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo không để rác thải tồn đọng gây mất vệ sinh công cộng, ô nhiễm môi trường, đặc biệt tại các khu dân cư, nơi công cộng, khu du lịch, đường phố, đường làng, ngõ xóm, kênh mương, ao hồ và sông ngòi.
Từ ngày 01/6/2026, hòa cùng chủ trương chung của cả nước, Hà Nội sẽ chính thức chuyển đổi từ xăng khoáng (RON95) sang sử dụng xăng sinh học (E10, E5). Đây là một bước tiến quan trọng nhằm giảm phát thải khí gây ô nhiễm môi trường, từng bước hạn chế sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, đồng thời góp phần đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và thúc đẩy phát triển nền kinh tế xanh, bền vững.
Hưởng ứng Ngày Môi trường Thế giới và Tháng cao điểm hành động vì môi trường năm 2026 (diễn ra từ cuối tháng 5 đến hết tháng 6/2025) với chủ đề “Hà Nội chung tay hành động vì không khí sạch và giao thông xanh”, Thành phố Hà Nội đã triển khai nhiều hoạt động ý nghĩa và thiết thực. Các hoạt động này được lồng ghép với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường, góp phần thay đổi hành vi bền vững, nâng cao trách nhiệm của cộng đồng, doanh nghiệp, chính quyền các cấp và từng cá nhân trong nỗ lực bảo vệ môi trường không khí Thủ đô.
Trong hành trình hướng tới mục tiêu phát triển đô thị xanh, thông minh và bền vững, việc quyết liệt xử lý các “điểm nghẽn” môi trường được xem là yêu cầu cấp thiết hàng đầu. Những giải pháp đồng bộ từ công tác quản lý, thanh tra, giám sát cho đến việc nâng cao ý thức chấp hành của các tổ chức, cá nhân sẽ là nền tảng vững chắc để cải thiện đáng kể chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Thủ đô trong thời gian tới.


